CHUYỆN BỊA

Tác giả: Trần Văn Lý

 

Vào những năm giữa của thập kỷ sáu mươi, ở thế kỷ trước, thế kỷ 20. Quê ngoại làng Vạn Phúc của huyện Thanh Trì – Hà Nội, nơi tôi sinh ra và lớn lên, có người đã ác khẩu gọi nó là: Xibêri của Hà Nội. Nhưng nghĩ kỹ cũng có khía cạnh đúng. Chúng tôi một năm hai lần được xem “chớp bóng” mà nay thường gọi là xem phim. Nếu có cái bình bịch (nay gọi là mô tô, xe máy) nào qua làng là lũ trẻ con chúng tôi chạy túa ra xem. Xe có tiếng máy nổ càng to chúng tôi càng khâm phục, càng thích rồi ríu rít kể cho nhau nghe. Bởi hồi ấy rất hiếm ô tô, mà dẫu có cũng không thể về được tới làng. Bởi đường làng là đường đất, bé tẹo. Động mưa một tý là ngầu bùn, dẫu có dắt chiếc xe đạp đi cũng còn khó vì bùn cứ bám chặt vào hai lốp xe.
Thế nên người ốm nặng phải đi bệnh viện chỉ duy nhất có một cách là: nằm lên chiếc võng được kết bằng những sợi đay, rồi luồn một khúc tre to vào để hai người khênh, mỗi người một đầu. Chạy theo chiếc võng luôn có mấy người đàn ông và đàn bà khỏe mạnh, họ sẽ thay nhau khênh, từng chặng đường cho tới lúc tới bệnh viện.
Tôi còn nhớ có một hôm dì út, em của mẹ tôi đến thì thầm với mẹ tôi rằng:
– Chị Châm ạ! Em vừa ở bệnh viện về, bệnh viện Bạch Mai người ta bảo anh Sáng thối hết gan rồi, không chữa được nữa đâu. Mấy hôm nay anh ấy không ăn gì, nước cũng không nuốt nổi. Đổ được một tí nước cam vào mồm, đổ bao nhiêu nó tứa ra hết bấy nhiêu. Và rất lạ, anh ấy luôn cắn chặt hai hàm răng. Lúc em về anh ấy còn thở thoi thóp. Mọi người bảo không biết có sống nổi được tới mai để về nhà mà chết ở nhà không? Hay là chết ngay đêm nay? Chị ạ! Chị Sảo dặn em bảo chị đi mua gỗ giúp chị ấy rồi tìm thợ mộc đóng cho anh Sáng chiếc hòm áo quan. Để mai vào khoảng mười giờ sẽ đưa anh Sáng về đến dốc đê.
Nghe dì út nói thế, mẹ tôi nước mắt vòng quanh, mếu máo:
– Thật khổ thân cho cái Sảo, mới hơn ba mươi cái tuổi đầu đã mất chồng. Hường ạ (tên dì út tôi)! Thế chiều em có lên bệnh viện nữa không? Lên đi! Em nói với cái Sảo là: Nếu đêm nay chồng nó chết hoặc đến mai đi đường mà chết thì cứ mang về gần bãi tha ma ấy. Rồi cho người về gọi, chị sẽ bố trí người khênh áo quan xuống. Chứ đừng mang về nhà, ai lại mang ma về nhà, rồi sau này nó quấy nhiễu thì biết làm sao? Còn mấy đứa con, lại cả mẹ già nữa chứ. Mọi việc ở nhà cứ yên tâm, chị sẽ lo, nhất định tám, chín giờ sáng mai sẽ đóng xong áo cho chú nó. – Nói tới đây mẹ tôi và dì út đều khóc.
Năm đó tôi đã mười hai tuổi. Sáng hôm sau tôi vừa bế thằng con trai của dì tôi, vừa ngóng ra ngõ. Trong nhà dì tôi, tiếng đục lách cách, tiếng cưa xoèn xoẹt, tiếng đóng đanh chan chát. Cái áo quan của chú tôi chắc chỉ một tí nữa là xong. Bà mẹ chồng của dì Sảo tôi lúc nãy vừa thắp một tuần hương lên bàn thờ, hiện giờ bà đang nằm bất động quay mặt vào tường. Bỗng có tiếng của dì út của tôi gọi:
– Chị ơi! Chị Châm ơi, về rồi… về rồi!
Mẹ tôi từ trong nhà chạy ra:
– Thế nào, thế nào, để ở đâu? Bảo độ tí nữa là có áo quan.
Bà mẹ chồng của dì Sảo tôi bật dậy:
– ối Sáng ơi, thế là con bỏ mẹ, bỏ vợ, bỏ con con đi thật ư? – Bà cứ thế khóc lóc thảm thiết.
Tôi nghe thấy tiếng dì út của tôi nói:
– Bà ơi, chị ơi đưa anh Sáng về tới đình làng Chanh rồi (làng trên) song chưa chết, vẫn còn thở. Mọi người bảo em chạy nhanh về trước để dọn một cái giường cho anh ấy về nằm, may ra anh ấy về kịp thì được chết ở nhà.
Mẹ tôi và mọi người rối rít đi dọn giường và bảo dì út:
– Em chạy nhanh ra đón mọi người và bảo nhớ là kiểm tra xem có còn thở không rồi mới được khênh vào nhà. Chứ chết rồi thì phải để ngoài ngõ nghe chưa.
Dì út tôi chạy vội đi. Trong nhà, bà mẹ chồng của dì Sảo tôi đã thôi khóc. Bà với tay châm ba nén hương cắm lên bàn thờ lầm rầm khấn vài gì đó mấy câu rồi xách chiếc túi trong đó có hương hoa, cau dầu đi ra ngõ. Thấy thế, mẹ tôi gọi theo:
– Bà ơi! bà đi đâu đấy? Chú nó sắp về tới nhà rồi bà còn đi đâu? – Tiếng bà cụ quay lại nói với mẹ tôi:
– Bác cứ giúp tôi đón em nó vào nhà, tôi đi lát tôi về ngay.
Bà mẹ chồng dì tôi vừa đi được độ hai mươi phút thì chiếc võng do hai người đàn ông khênh chú tôi về đỗ ở sân. Mẹ tôi vừa bỏ chiếc chăn che nắng cho chú tôi lúc đi đường ra, vừa trông thấy mặt chú tôi, bà đã òa khóc:
– ới Sáng ơi, em định bỏ chị em đi một mình à? Đến giỗ bố, giỗ mẹ này – tức ông bà ngoại tôi – thì ai làm cỗ để cúng các cụ đây hở em ơi?
Chả là ông bà ngoại tôi sinh hạ được năm người con gái và một bác con trai, hiện bác ấy đang ở tận trong Sài Gòn. Nên giỗ ông bà ngoại tôi, chú Sáng tôi thường là người tay dao tay thớt.
– Nhiều tiếng nhao nhao phản đối mẹ tôi: – Cái chị này buồn cười thật, có im đi để khênh anh ấy vào nhà không? Anh ấy vẫn còn thở đây này chứ đã chết đâu!
– Mẹ tôi nín khóc. Mọi người túm vào khênh chú tôi vào cái giường mà mẹ tôi vừa dọn. Tôi thấy chú tôi da vàng ệch, thở rất yếu, mắt nhắm nghiền. Dì Sảo vành mắt chú ra, tôi thấy con ngươi mắt của chú vẫn còn hơi động đậy, còn phần lòng trắng của mắt nay tất cả đã vàng như nghệ. Dì tôi lấy múi cam vành mồm chú ra nhưng không được, vì hai hàm răng chú cắn vào nhau rất chặt. Dì đành bóp bóp múi cam bôi vào môi, vào răng chú. Dì tôi bảo làm thế may có được một tý nước nào ngấm vào trong chăng! Nhưng có một điều lạ là trông thể xác chú tôi thì vẫn to khỏe như người bình thường, mặc dù đã nằm viện được hơn một tháng, và sau bốn năm ngày không ăn, không uống.
Chú tôi về nhà được độ một tiếng đồng hồ thì bà mẹ chồng của dì tôi cũng về. Bà lấy ở trong túi xách trên tay ra một chùm ba, bốn chiếc xanh xanh, đỏ đỏ làm bằng giấy xoắn lại với nhau, bà thận trọng để vào chiếc đĩa đặt lên giường thờ, thắp ba nén hương rồi lầm rầm khấn những câu gì đó. Khấn xong bà đốt chùm giấy xanh đỏ đó thành than trong cái đĩa, bà với tay lấy cút rượu rót nửa chén hạt mít rồi đổ vào chiếc đĩa con kia, lấy ngón tay trỏ bà di di cho than giấy vừa đốt tan ra với rượu. Song tất cả bà bưng chiếc đĩa đến chỗ giường chú tôi đang nằm. Dì tôi gắt lên:
– Bà thì chỉ được cái lẩn thẩn, bệnh viện bác sĩ người ta bảo thối hết gan rồi chưa chắc đã về kịp tới nhà, nay về được tới nhà mà chết là may lắm rồi, còn lễ với bái mà làm gì? Bùa với bèn mà làm gì? Bùa bèn mà chữa khỏi được thì đã chả phải mất tiền đi bệnh viện. – Dì tôi nói thế, song sắc mặt bà mẹ chồng của dì tôi vẫn tỏ ra bình tĩnh như mọi nỗi đau đớn của bà lúc nãy nay đã được bà nén ở tận đáy lòng. Bà nói với dì tôi:
– Thì mẹ nó cứ để cho tôi làm coi như tôi rửa mặt cho bố nó, cho bố nó ra đi được mát mẻ – Nghe thế, dì tôi không dám phản đối nữa. Còn bà cụ thì lấy tay xoa thứ nước hơi đen đen trong đĩa lên khắp người chú tôi, vừa xoa bà vừa lầm rầm khấn những câu gì đó ở trong mồm.
Chiều hôm ấy chú tôi vẫn chưa đi, tới khuya vẫn vậy, vẫn nằm thoi thóp ở trên giường. Qua đêm tới sáng vẫn vậy. Nhiều người thấy thế không đợi được nữa đã về để ra đồng làm việc.
Mẹ chồng của dì tôi rất lạ. Con trai duy nhất sắp chết mà không chịu ở nhà, chưa tối đã rửa mặt mũi chân tay sạch sẽ rồi mặc áo the xách túi vàng hương đi ra ngõ. Có người trông thấy hỏi dì tôi:
– Dì Sảo này, bà đi đâu thế kia? – Dì tôi nói:
– Khổ thế đấy! Bà em đi lễ đấy, chả làm thế nào mà gàn được cả!
Và cũng không hiểu vì sao bệnh viện nói tưởng chết ngay. Thế mà chú tôi về nhà đã được hai ngày rồi mà vẫn chưa chết. Và lạ hơn nữa là đôi lúc chú tôi đã hé mồm ra để dì tôi đổ được mấy thìa cơm vào miệng. Sáng ngày thứ ba, mọi người vô cùng ngạc nhiên khi thấy chú tôi ăn hết một chén nước cháo, có lúc mở được cả mắt ra nữa. Tuy không nói được song ai đến thăm mà gọi vào gần tai chú, chú cũng biết người ấy.
Vào khoảng chín giờ sáng hôm ấy (hôm thứ ba), thấy trán chú tôi lấm tấm mồ hôi, bà mẹ chồng của dì tôi lấy khăn mặt lau cho chú, rồi bà cầm tay chú thấy tay chú lạnh, cầm chân thấy cả chân cũng lạnh. Hoảng quá, bà cụ gọi:
– Mẹ thằng cu đâu? Cầm hộ bà hộp dầu cao con hổ ra đây với!
Bà vừa dứt lời thì bỗng chú tôi trợn ngược mắt lên, nghiến răng ken két, hai tay vung lên, đập xuống giường ầm ầm, cứ như có sức mạnh nào vừa nhập vào chú tôi. Cả nhà hoảng hốt chả hiểu điều gì đang xảy ra. Người chạy ra, người chạy vào hoảng loạn. Riêng chỉ có bà cụ mẹ chồng dì tôi là sau khi tái mặt xong bà vái lạy, mồm nói. Lần này bà nói to cho nên mọi người đều nghe rõ:
– Trăm lạy quan, nghìn lạy các quan, con người trần mắt thịt già nua, lẩm cẩm, có nhầm, có lỗi. Đã chót phạm húy tới các quan. Thôi thì con xin các quan linh thiêng thương xót đại xá cho con của con ăn xuống, uống tiêu. Rồi để cho nó còn khỏe mạnh, nó làm nó nuôi con nhỏ của nó. Trăm lạy các quan, nghìn lạy các quan. Con của con ngu muội, lếu láo, nó dại dột trót đốt mất hình của các quan, con xin được dựng lại để thờ. Trăm lạy các quan, nghìn lạy các quan, con đã tầu vàng lá sớ kêu tới cửa của các quan, mà các quan cũng đã cho rồi cơ mà? Mà cũng là con phạm húy chứ không phải nó, nếu các quan giáng tội xin cứ giáng vào con. Con xin các quan tha cho con của con, cho bệnh của nó ngày một bớt, ăn ngày một tiêu, con trăm lạy các quan, nghìn lạy các quan… Bà cụ vừa lễ, vừa khấn độ nửa tiếng đồng hồ thấy chú tôi dịu dần, dịu dần và ngủ.  Lúc ấy có người mới hỏi bà:
– Bà ơi! Sao bà biết được là bác Sáng nhà ta lúc nãy bị các quan người hành? – Bà cụ rơm rớm nước mắt nói:
– Trăm lạy các quan, nghìn lạy các quan, các quan đã cho người trần chúng con bói ra khoa thấy, các quan đã giáng xuống ra uy cho mọi người phải sợ. Nay xin các quan cho phép con được kể cho mọi người nghe. – Rồi bà kể:
– Các bà, các bác ạ. Thằng Sáng nhà tôi nó ngỗ ngược quá. Xưa nhà tôi như các ông, các bà, các bác đã biết. Kia là… – bà cụ nói, vừa chỉ ra cái nền còn sót lại ở cạnh bể nước mưa, chếch về phía đông so với ngôi nhà chính. – xưa là ba gian điện thờ của ông bố chồng tôi lập nên, rất thiêng. Đến đời bố của anh Sáng, tức là chồng của tôi, việc thờ cúng vẫn không dám chểnh mảng. Nói của đáng tội có lẽ vì lễ bái siêng năng và ăn ở đầy đặn nên trời tiếp phúc cho: nuôi lợn được lợn, đánh cá được cá. Mùa cá mòi hàng năm người ta đánh cá chỉ được mươi mười lăm con một mẻ lưới đã cho là nhiều lắm rồi. Còn em Sáng nhiều mẻ lưới dễ gần được gần đến ba trăm con một mẻ chứ chẳng đùa. Sợ thuyền chìm vì không chứa hết cá đã phải gọi những thuyền xung quanh đến giúp đưa lưới và cá lên bờ. Vợ nó bán hàng gánh cá một ngày mà vẫn không hết, vẫn phải mang phơi khô bớt để ăn dần vào mùa đông. Thậm chí nhiều quá phải đi biếu đỡ nhà các bà, các bác. Chính vì trời tiếp phúc nên nhà cửa, vườn ruộng nhà tôi mới được như vậy.
Đúng là vườn nhà chú Sáng tôi rộng mênh mông, dễ rộng đến bảy nghìn mét vuông chứ chả ít. Trông cứ như một cái trang trại, trong đó cây ăn quả nhiều ơi là nhiều. Trừ ba gian điện đã dỡ đi vẫn còn ngôi nhà ngói đại khoa năm gian, cộng với ba gian nhà ngang. Chuồng lợn chuồng bò cũng đều lợp ngói hết. Còn  cả cái sân gạch rộng thênh thang, nơi mà đội văn nghệ của xã thường đến tập vở, rồi còn họp cả chi đoàn thôn ở đây nữa. Cổng nhà chú Sáng tôi cũng được xây rất bề thế. Lối đi từ cổng vào cũng được lát gạch Bát Tràng, từ cổng vào sân cũng phải đến hai mươi mét, hai bên trồng hai hàng hoa tóc tiên, xen vào có rất nhiều chậu cây cảnh. – Mọi người nghe bà cụ mẹ chồng dì tôi kể tiếp:
– Đến khi ông nhà tôi qua đời được ít ngày là em Sáng dứt khoát đòi phá đi ba gian điện, lúc ấy em Sáng mới hơn hai mươi tuổi. Tôi khuyên ngăn thế nào cũng không được. Biết là không thể bảo được em, đợi lúc em nó đi vắng tôi đã nhờ người chuyển hết đồ thờ sang điện nhà hàng xóm. Nhưng chưa xong thì em nó về, còn sót lại cái gì chưa chuyển kịp là nó đùng đùng vất hết ra gốc chuối ở ngoài vườn, trong đó có bức tranh quan ngũ hổ. Tôi mắng nó, nó hùng hổ ra nhặt rồi mang vào bếp nơi đang đun nồi cám lợn, nó vừa đốt vừa nói:
– Này thì quan này, quan cũng đốt xem có làm gì được ông không? – Tôi chạy vào giằng ra, song không được. – Nay các quan về hành nó lúc nãy là do tôi nhầm lẫn gọi vợ nó rằng: Mang lọ dầu con hổ ra đây nên các quan nổi giận. Các bà, các bác ạ, tôi ngày đêm khuyên bảo em nó nhưng nó cứ lý sự với tôi:
– Tôi là đoàn viên thanh niên, lại là Bí thư chi đoàn nữa chứ, rồi còn phấn đấu vào Đảng nữa. Nếu tôi thờ cúng điện, đền có nghĩa là tôi “mê tín dị đoan”, nếu thế thì tôi còn nói ai được nữa. Mới lại mẹ có biết ở Liên Xô và Trung Quốc không? Người ta đang tiến lên nông trang, rồi công xã. Ăn tập trung, ở tập trung hết để lấy nhiều đất. Đất cần phải rộng để dùng máy bay phun thuốc sâu cho cây. Bón phân cũng bằng máy bay. Thu hoạch lúa, ngô bằng máy hết. Rồi còn phải công nghiệp hóa đồng ruộng, hóa học hóa nông nghiệp. Ăn tập trung, ở tập trung thì đến cái bàn thờ thắp hương của mỗi nhà cũng không cần nữa là điện với đền. Nghe nói thế tôi tức quá, tôi quát:
– Thế vợ mày, mày có chung không? Tao chết mày có phải làm ma cho tao không hay mày vất tao đi?
– Mẹ lạc hậu rồi – nó quát tôi thế và nó còn nói – Thế đình chùa đang mang ra làm trường học kia, thậm chí còn làm kho chứa phân lân, phân đạm nữa, đã sao đâu, đã ai chết đâu…? Mẹ chỉ được cái mê tín dị đoan là không ai bằng. Con xấu hổ về mẹ. Cứ thế này con còn làm sao mà tiếp tục công tác được nữa?
– Các ông, các bà, các bác ạ! Nào đã hết đâu, chỗ đất cạnh bờ nước ngoài sông. Nước chảy hở ra một cỗ quan tài, có lẽ chôn từ đời thượng cổ, nhưng ván vẫn còn tốt. Em Sáng nó dám đào lên để lấy ván đẽo mấy cái dầm bơi, còn xương cốt của người ta nó đổ hết xuống sông.
– Thời gian độ một năm trở lại đây, có nhiều tối tôi nằm trong nhà nhưng chưa ngủ. Cứ thấy bóng người lớn thấp thoáng lúc ở đầu hồi nhà, lúc thì vào đứng ở cửa. Tôi hỏi ai đấy? Thì lại chẳng thấy đâu nữa. Có một hôm mới vào khoảng tám giờ tối, ở trong nhà tôi cứ nghe thấy ngoài bể nước có tiếng người múc nước rửa chân. Tôi chạy ra hỏi lại chẳng thấy có ai. Độ một lúc lâu sau vợ chồng em nó mới về. Tôi hỏi: Ban nãy đứa nào về trước rửa chân ở ngoài bể xong lại đi hả? Cả hai vợ chồng em nó đều nói: Đi làm từ chiều đến bây giờ chúng con mới về đây này, làm gì có ai về trước mà rửa chân. Có những hôm vào nửa đêm bỗng bên tai tôi có tiếng người gọi: Dậy, dậy mà xem thằng Sáng nó phá nhà tao rồi. – Bà mẹ chồng dì tôi nói tiếp;
– Các ông, các bà, các bác ạ! Tôi cũng thấy sợ lắm song lại nghĩ: Mình già rồi có chết cũng không sao, cứ để ngẫm xem. Tuy nghĩ thế song tôi vẫn giấu vợ chồng nó để đi lễ bái, kêu khấn nhưng những bóng người vẫn đêm đêm hiện về ngày một thường xuyên hơn. Em Sáng cũng dở chứng rõ ràng nhất là cách đây tám, chín tháng gì đấy. Nhà có cây mít ở đằng sau ba gian điện ngày trước. Cây mít mà tôi về làm dâu đã thấy: cây to và quả rất ngon, một gốc mọc ra ba thân cây, bóng của nó che rợp cả một sào vườn. Một hôm tự nhiên em Sáng săm săm vác rìu ra chặt, chặt xong cây mít chừng gần một tháng thì em nó kêu mệt. Để ý trong lời ăn tiếng nói của nó đã thấy nó hơi lẩn thẩn mất rồi. Hai vợ chồng nó đã đưa nhau đi khám ở bệnh viện mấy lần, bác sĩ bảo khỏe mạnh, không có bệnh gì. Và cách đây gần hai tháng là em nó ốm hẳn.
Nay bệnh viện bác sĩ bảo thối hết gan rồi, không chữa được nữa, trả về nhà để chết ở nhà. Tôi đi lễ bái cho em nó thời gian gần đây mới được biết rằng: phải thờ lại cái tranh của quan ngũ người mới cho khỏi bệnh, tôi đã mua và đã thờ ở điện bên hàng xóm rồi. Hôm cúng dựng tranh thờ các quan người phán nhờ mẹ ăn ở đầy đặn nên số còn sống thêm một thời gian dài nữa. Biết thế song tôi không dám nói vì biết vợ chồng nó không tin, có nói chúng sẽ phỉ báng và mắng cả tôi ý. Nên tôi cứ âm thầm đi lễ.
Chả biết nên tin như thế nào mà quả thật chú tôi dần dần khỏe lại, sống thêm được dễ gần mười năm nữa. Dì, chú tôi còn sinh được thêm hai đứa con nữa. Một trai và một gái. Giờ chúng cũng con cái đề huề cả rồi. Thế mới kỳ lạ chứ!
Chuyện nữa mà tôi được biết là: Hồi còn đi học hầu như tôi làm lớp trưởng suốt. Lớp phó của lớp tôi là người con gái có tên Hương. Tuy là lớp trưởng đấy song đôi khi tôi vẫn bị Hương quát cho một trận. Hương phụ trách học tập. Một trong những nhiệm vụ của Hương là đi kiểm tra vở sạch chữ đẹp. Nhưng ôi thôi, chữ tôi xấu lại trình bày rất cẩu thả, may mà bù lại điểm toán của tôi thường được tám, chín, mười. Điểm văn tuy họa hoằn lắm mới có một con mười. Nhưng những bài tập làm văn của tôi thường được lấy làm bài mẫu để đọc trước lớp.Vì thế Hương cũng châm chước cho tôi nhiều lần. Thế mà không ngờ năm cuối của đời học sinh Hương lại bị lẩn thẩn. Càng đến những ngày cuối cùng càng nặng, tới mức nhiều lần đang ngồi giặt quần áo tự nhiên Hương cũng lăn ùm xuống ao. May quá những lần ấy đều có người trông thấy vớt lên, không thì đã chết từ lâu rồi. Vì học cùng lớp và lại cùng là cán bộ lớp nên tôi đã đến nhà Hương nhiều lần. Hương chỉ còn có bố, bố Hương hơn mẹ tôi dễ đến năm, sáu tuổi trông ông rất hiền và phúc hậu. Nhà Hương cũng khá, nhà và bếp đều lợp ngói, còn cái sân gạch cũng nhỏ nhỏ xinh xinh. Hương có hai người anh trai, người anh cả dáng khỏe mạnh trông rất đẹp trai, thế mà bị điên rồi đi đâu mất. Người anh thứ hai cũng vậy, cũng bị điên sau người anh cả hai năm. Tuy bị điên song tối tối vẫn biết đường mà về nhà chứ không giống như người anh cả. Còn ban ngày chít khăn xanh, khăn đỏ lên đầu vừa đi vừa la hét lảm nhảm, nhặt được cái gì trên đường thì ăn cái ý, bẩn bẩn, thỉu thỉu, song được cái tuy điên nhưng không trêu chọc, phá phách ai bao giờ.
Thấy Hương bị lẩn thẩn nặng tôi về nói với mẹ tôi: Ôi, nhà bạn Hương lớp con mẹ ạ! Bố bạn ấy rất hiền, trông bác ấy rất phúc hậu. Bác có hai người con trai dáng đẹp trai thế mà đều bị điên cả. Nay lại đến cả Hương cũng gần như thế rồi thật khổ thân bạn ấy. Mẹ tôi chép miệng rồi nói:
– Trông ông ấy thì hiền đấy, song có ai biết đâu là lại làm những việc độc ác, bất nhân, thất đức đến vậy. Cả nhà con cái nay đều bị điên là do trời quả báo đấy! Rồi mẹ kể cho tôi nghe:
Vào đầu nhưng năm năm mươi, lúc con vừa ra đời. Năm ấy nước sông Hồng lên to quá, ngập cả làng tôi. Có một chiếc thuyền con chở hai vợ chồng với hai đứa con nhỏ và một số hòm xiểng đi xuôi trên sông Hồng. Vì khúc sông qua làng tôi chảy theo hình vòng thúng nên nếu đi đúng dòng sẽ phải đường rất xa, sẽ phải tốn nhiều thời gian, nên hai vợ chồng nhà kia quyết định cho thuyền đi tắt qua làng tôi và men theo gần sườn đê. Nhưng làng tôi lại có một con đường nối từ đê tới bờ sông. Đường đã to lại cao chắn ngang dòng chảy, nếu dòng nước lũ muốn chảy ắt phải phá được con đường đó mới chảy được. Năm chiếc thuyền của hai vợ chồng nhà kia đi qua làng tôi, thì cũng là năm con đường mới bị nước lũ phá vỡ từ hai hôm trước. Chỗ đường bị vỡ ấy, nước chảy như thác. Khi phát hiện ra là thuyền đang bị cuốn đi không thể nào điều khiển nổi, rồi nó va vào vật gì đó và bị lật. Hai vợ chồng nhà kia kêu cứu. Cũng là lúc bố Hương tình cờ bơi thuyền qua. Vì là dân sông nước nên bố Hương khéo léo bơi thuyền đến chỗ chiếc thuyền bị nạn. Lúc ấy hai vợ chồng nhà kia cũng giúp nhau bám được vào mạn thuyền bố Hương. Họ van xin bố Hương cho họ lên thuyền và hãy cứu con họ với. Nhưng bố Hương đã không vớt hai vợ chồng nhà có chiếc thuyền bị nạn kia lên, mà còn dùng dầm bơi phang mạnh vào tay họ, để họ rời tay ra và bị dòng nước cuốn đi, rồi chìm mất. Còn bố Hương bơi theo những chiếc hòm của hai vợ chồng nhà kia và vớt nó lên thuyền của mình. Chả biết trong những hòm đó có gì, làng chỉ thấy ít lâu sau, bố mẹ Hương xây dựng được nhà cửa. Nhà cửa xây xong được gần một năm vào một buổi sáng người ta phát hiện ra xác của mẹ Hương treo lủng lẳng trên một cái cây ở cạnh đầu hồi nhà Hương, năm ấy Hương vẫn còn ẵm ngửa. Sau đó các anh Hương lớn lên cứ đến năm độ mười bảy, mười tám tuổi là bị điên.
Mẹ tôi còn kể: Bố Hương đi cúng bái rất nhiều nơi rồi, song ở đâu người ta cũng nói: ác quá! Không thể cúng mà khỏi được. Phải chịu tội như thế cho đến chết!
*
*   *
Hai chuyện mà tác giả viết ra ở trên xin đừng ai tin mà khổ, hãy cho nó là chuyện bịa kể cho vui. Tuy bịa song qua đấy tác giả cũng muốn gửi gắm ước mơ của mình:
Ước gì trên đời này có thần thánh thật, để ai “ở hiền sẽ được gặp lành, ở ác sẽ gặp điều ác”, để khỏi phải nhìn thấy cảnh:
Ôi những người thủy chung sau trước
Như bông hoa trước gió mỏng manh
Còn phường độc ác hôi tanh
Như loài cỏ dại vẫn xanh tháng ngày
Nếu có thần thánh thật, chắc những tên quan lại tham ô bòn rút của nước, của dân để sống phè phỡn, trụy lạc, trai gái, cờ bạc hàng triệu USD sẽ bị trừng trị lập tức. Những kẻ reo rắc cái chết trắng cho con em chúng ta sẽ phải xuống ngay chín tầng địa ngục. Những kẻ tụ tập đi giết người cướp của, cả những kẻ buôn thần bán thánh lừa bịp dân chúng cũng phải nhốt hết chúng lại. Còn cả những đứa con bất hiếu để bố mẹ tuổi già bơ vơ ngoài đường, ngoài chợ. Cả những kẻ lừa thầy phản bạn cũng phải răn đe trừng trị, để đời chúng cũng phải gặp những quả đắng tương ứng với tội lỗi của chúng. Ước gì! Ước gì mà trên đời này có thần thánh thật nhỉ!

 

Tết Đinh Hợi